Công cụ quản lý mềm
Tại Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 1/7/2026, thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng lần đầu tiên được bổ sung vào diện chịu thuế, với thuế suất 0,1%.
Luật giao Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng và việc điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng, phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng. Quy định này nhằm loại trừ các trường hợp cá nhân mua, bán vàng vì mục đích tiết kiệm, cất giữ, không mang tính kinh doanh.
Đánh giá về chính sách lần đầu tiên áp dụng thuế TNCN khi chuyển nhượng vàng miếng, với mức 0,1%, TS Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cho rằng đây là bước đi mang tính quản lý nhiều hơn là tận thu.
“Mức thuế suất 0,1% là rất thấp, gần như không ảnh hưởng đến quyết định mua - bán vàng của người dân. Điều này cho thấy Nhà nước không đặt mục tiêu tăng thu ngân sách từ vàng, mà hướng tới minh bạch hóa các giao dịch, từng bước đưa hoạt động mua bán vàng miếng vào khuôn khổ quản lý thuế tương tự các loại tài sản khác”, ông nói với PV VietNamNet.
Lần đầu tiên thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng được đưa vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 0,1%. Ảnh: Nam Khánh
Theo ông Nhân, xét về mặt chính sách vĩ mô, quy định này giúp thu hẹp khoảng trống pháp lý lâu nay đối với vàng miếng, một kênh tích trữ và đầu tư phổ biến, có giá trị lớn nhưng chưa được quản lý đầy đủ về thuế. Khi có cơ chế thu thuế, dù ở mức rất thấp, cơ quan quản lý sẽ có thêm dữ liệu để theo dõi dòng tiền, hạn chế đầu cơ, thao túng và các giao dịch phi chính thức.
Còn xét trong bối cảnh thị trường tài chính - tiền tệ, ông cho rằng, chính sách này còn mang thông điệp điều tiết: không khuyến khích việc “trú ẩn” quá mức vào vàng, đồng thời tạo sự công bằng tương đối giữa vàng với các loại tài sản khác như chứng khoán, bất động sản vốn đã chịu thuế khi chuyển nhượng.
Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả và tránh gây băn khoăn cho người dân, cần hướng dẫn rõ ràng về cách xác định giao dịch chịu thuế, phương thức khấu trừ, trách nhiệm của các tổ chức kinh doanh vàng, cũng như bảo đảm thủ tục đơn giản, thuận tiện.
“Nếu làm tốt khâu này, thuế chuyển nhượng vàng miếng sẽ trở thành công cụ quản lý mềm, góp phần ổn định thị trường hơn là tạo thêm gánh nặng cho người dân”, ông nhấn mạnh.
Vị chuyên gia cũng cho rằng, mức thuế suất 0,1% trên mỗi lần giao dịch vàng miếng khó có thể triệt tiêu hành vi đầu cơ trên thị trường. Muốn hạn chế đầu cơ vàng một cách thực chất, theo ông, thuế chỉ là một phần rất nhỏ, quan trọng hơn vẫn là các giải pháp đồng bộ như: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới, minh bạch nguồn cung vàng miếng và phát triển các kênh đầu tư thay thế an toàn, hấp dẫn hơn cho người dân.
Ngưỡng đánh thuế cần linh hoạt
Theo TS Lê Bá Chí Nhân, việc xác định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế cần được thiết kế theo hướng đánh đúng đối tượng, tránh ảnh hưởng tới người dân tích trữ nhỏ lẻ, đồng thời phục vụ mục tiêu quản lý thị trường dài hạn.
Ông lưu ý, ngưỡng chịu thuế nên đủ cao để loại trừ các giao dịch mang tính tiết kiệm, phòng ngừa rủi ro của đại bộ phận người dân. Nếu đánh thuế ngay từ các giao dịch giá trị nhỏ, chính sách rất dễ tạo cảm giác tận thu và làm suy giảm niềm tin.
“Ngưỡng giá trị nên được thiết kế theo hướng nhắm vào các giao dịch có quy mô lớn, tần suất cao, phản ánh rõ hành vi đầu tư, đầu cơ. Có thể xem xét áp dụng thuế đối với các giao dịch vượt một mức giá trị nhất định trong từng lần giao dịch hoặc trong một khoảng thời gian nhất định. Cách tiếp cận này giúp phân biệt tương đối rõ giữa người dân nắm giữ vàng và các chủ thể kinh doanh, đầu cơ vàng miếng”, ông đề xuất.
Bên cạnh đó, ngưỡng chịu thuế cần linh hoạt và có cơ chế điều chỉnh theo biến động giá vàng và lạm phát, tránh tình trạng “lạc hậu chính sách” chỉ sau vài năm áp dụng. Việc luật giao Chính phủ quy định chi tiết là hợp lý, bởi thị trường vàng biến động nhanh, nếu cố định cứng trong luật sẽ làm giảm hiệu quả quản lý.
Quan trọng hơn, ngưỡng này phải được công bố rõ ràng, cách xác định đơn giản, dễ thực hiện, gắn với trách nhiệm khấu trừ của các tổ chức kinh doanh vàng. Khi đó, thuế chuyển nhượng vàng miếng sẽ thực sự trở thành công cụ quản lý thị trường có trọng tâm, thay vì tạo thêm gánh nặng tâm lý cho người dân.
Về phương thức đánh thuế, ông Nhân nhận xét đánh thuế trên giá trị giao dịch vẫn là phương án phù hợp. Về nguyên tắc, đánh thuế trên lợi nhuận là công bằng hơn về mặt lý thuyết, vì người có lãi nhiều sẽ nộp thuế nhiều, người không có lãi hoặc lỗ thì không phải nộp thuế.
Tuy nhiên, thực tế tại thị trường vàng Việt Nam, phương án này gặp nhiều trở ngại bởi rất khó xác định chính xác giá mua, thời điểm mua, chi phí liên quan và mức lợi nhuận thực của từng cá nhân, nhất là với vàng tích trữ lâu năm, mua bán nhiều đợt hoặc không có đầy đủ chứng từ.
Trong khi đó, đánh thuế trên giá trị giao dịch với thuế suất 0,1% tuy chưa phản ánh đầy đủ mức lãi - lỗ nhưng lại đơn giản, minh bạch và dễ thực hiện. Cơ quan thuế có thể thu ngay tại khâu giao dịch thông qua các tổ chức kinh doanh vàng, giảm thiểu gian lận, chi phí tuân thủ thấp và hạn chế tối đa tranh chấp.
“Trong bối cảnh chính sách hiện nay, mục tiêu chính không phải là đánh mạnh vào lợi nhuận từ vàng, mà là đưa hoạt động mua bán vàng miếng vào khuôn khổ quản lý. Với mục tiêu đó, áp thuế trên giá trị giao dịch đóng vai trò như một “lệ phí quản lý mềm”, vừa tạo dấu vết giao dịch, vừa không gây xáo trộn thị trường”, TS Lê Bá Chí Nhân đánh giá.
Về dài hạn, khi hạ tầng dữ liệu, hóa đơn điện tử và quản lý giao dịch cá nhân được hoàn thiện hơn, có thể tính tới phương án đánh thuế trên lợi nhuận để nâng cao tính công bằng thực chất. Nhưng theo ông, ở thời điểm hiện tại, đánh thuế trên giá trị giao dịch vẫn là lựa chọn cân bằng nhất giữa công bằng, khả thi và hiệu quả quản lý.