Không ít ngân hàng đưa lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên mức 8,8-9%/năm. Thậm chí, lãi suất cho các khoản tiền gửi đặc biệt đã chạm mốc 10%. Chuyên gia dự báo cuộc đua lãi suất vẫn chưa dừng lại.
Từ đầu năm đến nay, cuộc đua huy động vốn của các ngân hàng trở nên "nóng bỏng" khi mặt bằng chung được nâng từ mức 7% lên 8%/năm. Thậm chí, lãi suất cho các khoản tiền gửi đặc biệt đã vọt lên mức hai con số.
Trong động thái mới nhất, hàng loạt ngân hàng thương mại tung ra các chương trình ưu đãi, chính sách cộng thêm lãi suất cho khách hàng đủ điều kiện, đẩy mức sinh lời tối đa lên tới 10%/năm.
Lãi suất đặc biệt chạm mốc 10%/năm
Điển hình, PVcomBank đang áp dụng lãi suất đặc biệt 10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng khi gửi tiền tại quầy, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng.
Không chỉ vậy, mặt bằng lãi suất chung (áp dụng cho khoản tiền gửi từ mức 100 triệu đồng trở lên) cũng đồng loạt tiệm cận mốc 9%/năm.
Tại Sacombank, nhà băng này vừa thông báo triển khai chương trình ưu đãi với mức lãi suất lên đến 8,8%/năm cho các khoản tiền gửi mở mới tại quầy từ ngày 26/3 đến 30/6 (hoặc đến khi đạt mục tiêu huy động). Khách hàng nhận lãi cuối kỳ sẽ được hưởng mức 8,2%/năm cho kỳ hạn 15 tháng; 8,6%/năm cho kỳ hạn 24 tháng và 8,8%/năm cho kỳ hạn 36 tháng.
Tương tự, VPBank cũng vừa tung gói “Lãi tiết kiệm Flash” áp dụng trong những ngày cuối tháng 3/2026 với mức cao nhất lên tới 8,9%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng. Mức lãi suất này được phân rã theo từng ngưỡng tiền gửi: Từ 3 đến dưới 10 tỷ đồng hưởng 8,7%/năm; từ 10 đến dưới 20 tỷ đồng hưởng 8,8%/năm; và các khoản từ 20 tỷ đồng trở lên sẽ áp dụng mức 8,9%/năm.
Trước đó, Ngân hàng số Vikki Bank cũng gia nhập đường đua khi áp dụng lãi suất 8,65%/năm cho kỳ hạn 6 tháng; 8,85%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 8,9%/năm cho kỳ hạn 13 tháng đối với các khoản tiền gửi từ 200 triệu đồng trở lên.
Đại diện một ngân hàng tư nhân cho biết, việc triển khai chương trình ưu đãi nằm trong định hướng chiến lược chung nhằm tăng cường năng lực huy động vốn ổn định, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động tín dụng. Đồng thời, đây cũng là cách ngân hàng khẳng định vai trò đồng hành cùng khách hàng cá nhân trong hành trình tích lũy, bảo toàn vốn trước những biến động của nền kinh tế.
Lãi suất đặc biệt đã lên mức 10%/năm (Ảnh: Tiến Tuấn).
Ngân hàng đang hút tiền từ kênh vàng, bất động sản, chứng khoán
Lãi suất huy động tăng cao đang tạo ra sự xê dịch đáng kể trong hành vi phân bổ dòng tiền. Sau một thời gian ưu tiên vào chứng khoán, bất động sản hay vàng, không ít nhà đầu tư đã bắt đầu quay lại với kênh tiết kiệm vốn được xem là an toàn và ổn định hơn.
Lý giải nguyên nhân, giới chuyên gia nhận định đà tăng này xuất phát từ tác động kép của tình hình vĩ mô thế giới và áp lực kinh tế trong nước. Các xung đột địa chính trị toàn cầu đẩy giá nguyên vật liệu, đặc biệt là giá dầu, tăng phi mã. Hệ quả tất yếu là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) buộc phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát, kéo theo sức mạnh của đồng USD. Điều này trực tiếp tạo sức ép lên chính sách điều hành tỷ giá và tiền tệ của Việt Nam.
Thêm vào đó, khi kỳ vọng lạm phát trong nước đang ở mức cao, các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tăng lãi suất huy động. Nếu không, mức lãi suất thực sẽ không đủ sức hấp dẫn để giữ chân dòng vốn, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt thanh khoản toàn hệ thống.
Mặt khác, áp lực này cũng xuất phát từ việc nhu cầu vốn của nền kinh tế đang phục hồi, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Khi nhu cầu vốn tăng nhanh trong khi nguồn cung tín dụng chưa theo kịp, lãi suất tất yếu sẽ nhích lên.
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế tài chính, chỉ ra rằng áp lực huy động vốn của các ngân hàng sẽ còn tiếp diễn trong năm nay khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án đầu tư công, hạ tầng gia tăng mạnh.
Đồng quan điểm, bộ phận phân tích của các công ty chứng khoán như Vietcombank (VCBS), MB... cùng dự báo mặt bằng lãi suất huy động sẽ tiếp tục xu hướng đi lên. Kịch bản được đưa ra là lãi suất có thể tăng thêm 0,3-0,5 điểm phần trăm trong nửa đầu năm 2026. Sang nửa cuối năm, biên độ tăng có thể duy trì ở mức 0,4-0,5 điểm phần trăm, đi kèm với sự phân hóa rõ nét hơn giữa các nhóm ngân hàng.