Theo quy định mức phạt đối với xe máy, xe ô tô được áp dụng khác nhau, người dân cần nắm rõ để tránh bị xử phạt oan.
Đi xe không chính chủ bị xử phạt thế nào theo quy định mới. Ảnh: Tô Thế
Nhiều bạn đọc thắc mắc, khi mượn xe hoặc thuê xe (xe không đứng tên người điều khiển) tham gia giao thông và bị xử lý vi phạm thì trách nhiệm pháp lý ra sao, mức phạt cụ thể thế nào?.
Phản ánh tới Báo Lao Động, ông N.X.C (trú xã Nam Cường, tỉnh Hưng Yên) cho biết, trưa 27.12.2025, ông điều khiển xe máy và bị lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) kiểm tra nồng độ cồn, lập biên bản vi phạm, đồng thời tạm giữ phương tiện. CSGT hẹn ông sau một tuần, tức ngày 6.1.2026, đến cơ quan chức năng để giải quyết.
Theo ông C, sáng 6.1, khi đến địa điểm ghi trong biên bản để nộp phạt hành chính, ông được thông báo tổng mức xử phạt các lỗi vi phạm là 14,5 triệu đồng. Trong đó, lỗi vi phạm nồng độ cồn ở mức thấp nhất bị phạt 2,5 triệu đồng; lỗi không có giấy phép lái xe bị phạt 3 triệu đồng; riêng lỗi “xe không chính chủ” bị xử phạt 9 triệu đồng. Nguyên nhân được cho là do chủ xe là cháu ruột của ông. Mức phạt này khiến ông C bức xúc, cho rằng chưa phù hợp với quy định.
Cùng phản ánh, một số bạn đọc cho biết, khi xử lý vi phạm giao thông, lực lượng CSGT thường xác minh xe có chính chủ hay không bằng cách yêu cầu người điều khiển gọi điện cho chủ phương tiện để xác nhận tình trạng mượn xe hay đã chuyển quyền sở hữu nhưng chưa làm thủ tục đăng ký.
Liên quan đến vấn đề này, luật sư Dương Văn Mai – Công ty Luật Bách Dương (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông hiện được áp dụng theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.1.2025.
Theo luật sư Mai, đối với hành vi không có giấy phép lái xe khi điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125cm³, mức phạt được quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Việc cơ quan chức năng áp dụng mức phạt 3.000.000 đồng là phù hợp với khung xử phạt theo quy định.
Đối với lỗi không làm thủ tục đăng ký xe khi thay đổi chủ xe (thường được gọi là “xe không chính chủ”), luật sư Mai cho biết, với phương tiện là xe mô tô, xe gắn máy, mức xử phạt được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Theo đó, phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy không làm thủ tục đăng ký khi thay đổi chủ sở hữu theo quy định.
So với trước đây, mức phạt này đã tăng so với quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP (mức phạt 400.000 – 600.000 đồng).
Luật sư Dương Văn Mai khẳng định, không có quy định nào xử phạt 9.000.000 đồng đối với lỗi không sang tên đổi chủ đối với xe mô tô, xe gắn máy. Mức phạt từ 8.000.000 đến 12.000.000 đồng chỉ áp dụng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, theo điểm h, khoản 7, Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
Do đó, trong trường hợp bạn đọc phản ánh, nếu phương tiện là xe máy, việc áp dụng mức phạt 9 triệu đồng đối với lỗi “không chính chủ” là chưa phù hợp với quy định pháp luật, có thể xuất phát từ sự nhầm lẫn trong quá trình áp dụng chế tài.